Hiển thị các bài đăng có nhãn Giống mới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giống mới. Hiển thị tất cả bài đăng
8 thg 7, 2013
QUY TRÌNH KỸ THUẬT THÂM CANH GIỐNG LÚA THUẦN ADI 28
I. NGUỒN GỐC :
Là giống lúa thuần chất lượng cao, được công ty ADI chọn lọc
từ quần thể nguồn gen lúa thuần nhập nội từ Trung Quốc qua chọn lọc phả hệ.
II. ĐẶC ĐIỂM GIỐNG :
- Là giống cảm ôn, kháng đạo ôn và ít nhiễm bạc lá nên gieo cấy được cả hai vụ Xuân và Mùa.
- Thời gian sinh trưởng: vụ Xuân 115 – 120 ngày, vụ Mùa 100 – 105 ngày.
- Cao cây từ 110 – 120 cm, đẻ nhánh khá, hạt thon dài , màu vàng sáng.
- Khối lượng 1000 hạt là 24 – 25 gram, phẩm chất gạo mùi thơm cơm ngon, cơm dẻo, mềm.
- Năng suất trung bình 70 – 80 tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt 110 – 115 tạ/ha.
- Cây cứng, chống đổ khá, chịu rét tốt.
III. KỸ THUẬT GIEO TRỒNG :
II. ĐẶC ĐIỂM GIỐNG :
- Là giống cảm ôn, kháng đạo ôn và ít nhiễm bạc lá nên gieo cấy được cả hai vụ Xuân và Mùa.
- Thời gian sinh trưởng: vụ Xuân 115 – 120 ngày, vụ Mùa 100 – 105 ngày.
- Cao cây từ 110 – 120 cm, đẻ nhánh khá, hạt thon dài , màu vàng sáng.
- Khối lượng 1000 hạt là 24 – 25 gram, phẩm chất gạo mùi thơm cơm ngon, cơm dẻo, mềm.
- Năng suất trung bình 70 – 80 tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt 110 – 115 tạ/ha.
- Cây cứng, chống đổ khá, chịu rét tốt.
III. KỸ THUẬT GIEO TRỒNG :
3.1. Chân đất: thích hợp với chân đất vàn và vàn
cao cho các tỉnh đồng bằng, Trung
du miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ.
3.2. Phương pháp ngâm ủ:
- Đối với giống chuyển vụ ( giống
mới thu hoạch) mà chưa hết thời gian ngủ phải có biện pháp phá ngủ cho giống .
- Đối với giống không chuyển vụ thì
ngâm ủ như sau: Ngâm thóc trong nước lã sạch 48 giờ ở vụ Xuân, 36 giờ ở vụ Mùa
(tính cả thời gian ngâm xử lý thuốc). Trong thời gian ngâm cứ 6 – 8 giờ phải
đãi và thay nước một lần, sao cho hạt thóc không có mùi chua. Khi hạt thóc đã
hút đủ nước, đãi thật sạch, để ráo nước rồi đem ủ. Trong quá trình ủ phải kiểm
tra, nếu hạt thóc khô tưới thêm nước. Khi thóc đã nứt nanh phải nhanh chóng đảo
nhẹ, rải mỏng, hạ nhiệt độ chỉ còn khoảng 250C. Khi hạt thóc ra mộng
và rễ đều, mộng mập, khô ráo, đem gieo.
Lưu ý: Dùng chậu, thùng để ngâm thóc.
Không được dùng bao xác rắn, bao nilon để ngâm ủ giống lúa.
3.3. Thời
vụ gieo cấy và mật độ cấy:
a.
Các tỉnh miền Bắc: Vụ
Xuân gieo 01 – 10/2, cấy khi mạ đạt 3 – 4 lá. Vụ Mùa gieo 05 – 25/06, cấy khi
mạ được 15 – 18 ngày tuổi. Mật độ cấy 38 – 40 khóm/m2, 2 – 3
dảnh/khóm.
Ngoài ra có thể áp dụng phương pháp
gieo thẳng: Vụ Xuân gieo từ 15 – 20/2, vụ Mùa gieo từ 25/6 – 15/7, lượng giống
cần 40 – 45 kg/ha.
b. Các tỉnh Bắc Trung Bộ: Vụ Đông Xuân gieo 10 – 15/1, cấy
khi mạ đạt 3 – 4 lá. Vụ Hè Thu gieo 20 – 25/5, cấy khi mạ được 15 – 18 ngày
tuổi. Lượng giống cần 40 – 45 kg/ha.
Gieo
thẳng: Vụ Đông Xuân gieo từ 20 – 25/1, vụ
Hè Thu gieo 01 – 10/6. Lượng giống cần 40 – 45 kg/ha.
c. Các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây
Nguyên: Vụ Đông
Xuân gieo thẳng 20 – 30/12. Vụ Hè Thu gieo thẳng 15 – 20/5. Lượng giống cần 70
– 80 kg/ha.
3.4.
Phân bón: để đạt năng suất cao cần bón phân
cân đối, tập trung, bón sớm và khuyến cáo sử dụng phân tổng hợp NPK bón lót và
bón thúc. Lượng phân bón tùy theo từng loại đất, trên chân đất trung bình bón:
* Đối với phân tổng hợp NPK:
- Bón lót (trước khi bừa cấy): bón 560-700 kg/ha phân NPK (5:10:3) cho vụ Xuân; bón 420-560 kg/ha cho vụ Mùa.
- Bón thúc lần 1 (khi lúa bén rễ hồi xanh): bón 340-360 kg/ha phân NPK (12:5:10) + 25-30 kg/ha đạm urê, kết hợp làm cỏ sục bùn.
- Bón thúc lần 2 (khi lúa đứng cái): bón 80-100 kg/ha phân Kali clorua.
* Đối với phân đơn:
- Lượng phân bón cho 1 ha: 8 tấn phân hữu cơ hoặc 2 tấn phân vi sinh + 160-180 kg đạm Urê + 350- 400 kg Supe lân + 120-140 kg Kali clorua. Vụ Mùa, vụ Hè thu giảm 10% lượng đạm, tăng 15% lượng phân kali so với vụ Xuân.
- Bón lót (trước khi bừa cấy) toàn bộ phân hữu cơ (hoặc phân vi sinh), phân lân + 40% phân đạm + 20% phân kali; bón thúc lần 1 (khi lúa bén rễ hồi xanh): 50% phân đạm + 30% phân Kali; bón thúc lần 2 (khi lúa đứng cái) bón lượng phân còn lại.
3.5. Tưới nước và phòng trừ sâu bệnh:
* Đối với phân tổng hợp NPK:
- Bón lót (trước khi bừa cấy): bón 560-700 kg/ha phân NPK (5:10:3) cho vụ Xuân; bón 420-560 kg/ha cho vụ Mùa.
- Bón thúc lần 1 (khi lúa bén rễ hồi xanh): bón 340-360 kg/ha phân NPK (12:5:10) + 25-30 kg/ha đạm urê, kết hợp làm cỏ sục bùn.
- Bón thúc lần 2 (khi lúa đứng cái): bón 80-100 kg/ha phân Kali clorua.
* Đối với phân đơn:
- Lượng phân bón cho 1 ha: 8 tấn phân hữu cơ hoặc 2 tấn phân vi sinh + 160-180 kg đạm Urê + 350- 400 kg Supe lân + 120-140 kg Kali clorua. Vụ Mùa, vụ Hè thu giảm 10% lượng đạm, tăng 15% lượng phân kali so với vụ Xuân.
- Bón lót (trước khi bừa cấy) toàn bộ phân hữu cơ (hoặc phân vi sinh), phân lân + 40% phân đạm + 20% phân kali; bón thúc lần 1 (khi lúa bén rễ hồi xanh): 50% phân đạm + 30% phân Kali; bón thúc lần 2 (khi lúa đứng cái) bón lượng phân còn lại.
3.5. Tưới nước và phòng trừ sâu bệnh:
a. Tưới nước: Điều tiết nước hợp lý
theo từng giai đoạn sinh trưởng của lúa.
b. Phòng trừ sâu bệnh: thường xuyên
kiểm tra các loại sâu bệnh, phát hiện sớm và phòng trừ kịp thời theo hướng dẫn
của cơ quan Bảo vệ thực vật địa phương.
* Khuyến cáo:
- Thời vụ gieo cấy nên kết hợp theo hướng dẫn của Trung tâm khuyến nông mỗi địa phương.
- Bón phân sớm, tập trung và cân đối, tuyệt đối không được bón đạm lai rai. Có thể sử dụng các loại phân tổng hợp NPK khác, bón theo hướng dẫn trên bao bì…
* Khuyến cáo:
- Thời vụ gieo cấy nên kết hợp theo hướng dẫn của Trung tâm khuyến nông mỗi địa phương.
- Bón phân sớm, tập trung và cân đối, tuyệt đối không được bón đạm lai rai. Có thể sử dụng các loại phân tổng hợp NPK khác, bón theo hướng dẫn trên bao bì…
*. Kỹ
thuật phá ngủ cho giống : Kỹ
thuật xử lý phá ngủ, kích thích nảy mầm đối với giống mới sản xuất ta có thể chọn một trong hai cách sau:
Cách 1: Xử lý bằng chế phẩm Pisomix (có bán ở các
đại lý cung ứng thóc giống). Cách dùng gói 1gói pha với 1-1,5 lít nước sạch để
ngâm cho 1 kg thóc giống trong 8 giờ, sau đó vớt ra rửa sạch chua, nhớt và tiếp
tục ngâm với nước sạch tuỳ từng loại giống theo kỹ thuật ngâm, ủ ở trên.
Cách 2: Xử lý bằng Supe lân (Lân Lâm thao) dùng 0,5 đến 1 kg
pha với 10 -15 lít nước, khuấy đều để lắng rồi gạn lấy nước trong để ngâm 10 kg
thóc giống trong 8-10 giờ, sau đó vớt ra đãi sạch chua rồi tiếp tục ngâm ủ theo
kỹ thuật ngâm, ủ ở trên.
Lưu ý: Đối với hạt giống lúa mới phải xử lý
nảy mầm thì thời gian ngâm tính từ khi xử lý hạt giống.
ADI : Cho Mùa vàng bội thu
Giống Ngô DK 6818
Ông
cha ta thường nói: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Quả thực
nước, phân bón và lao động chuyên cần là những yếu tố rất quan trọng
giúp cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
Tuy nhiên, SXNN phụ thuộc rất lớn vào
các điều kiện tự nhiên. BĐKH diễn ra trên toàn cầu, khái niệm về mùa vụ,
thời tiết cũng như lượng mưa, nhiệt độ, khô hạn, mưa bão… đã thay đổi
rất nhiều, không còn tuân theo quy luật và ảnh hưởng rất lớn đến SX.
Canh tác nông nghiệp theo phương pháp truyền thống mất đang dần hiệu
quả.
Nhìn lại câu nói trước kia “nhất nước,
nhì phân, tam cần, tứ giống” cho tới nay vẫn không hề sai, nhưng trong
cùng điều kiện như nhau thì giống là ưu tiên số một. Chọn được giống tốt
giúp chúng ta yên tâm hơn khi gieo trồng, yên tâm hơn khi thu hoạch và
bán sản phẩm. Để lựa chọn đúng giống cần cân nhắc khía cạnh: An toàn,
chất lượng và năng suất.
An toàn: SXNN được ví
như “nhà máy SX ngoài trời” bởi phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết cũng
như các yếu tố khách quan của môi trường. Yếu tố an toàn được coi như
tiêu chí hàng đầu mà tất cả nông dân đều quan tâm. Giống được gọi là an
toàn trong SXNN thể hiện trên các khía cạnh:
-Tính chống chịu thời tiết bất thuận:
Chọn giống đúng là chọn được loại giống có khả năng giảm thiểu tối đa
tác động của thời tiết bất thuận gây nên.
-Tính ổn định/phổ thích nghi rộng:
Giống phải có tính ổn định cao về mặt chất lượng và năng suất qua các
vụ, các năm gieo trồng để người dân có được sự an tâm và tin tưởng một
khi thả hạt giống xuống đất.
-Tính chống chịu dịch hại, sâu bệnh:
Trong điều kiện áp lực sâu bệnh ngày càng gia tăng phải chọn giống có
khả năng thích nghi và chống chịu tốt với dịch bệnh.
Khả năng trồng dày và thâm canh: Diện
tích đất canh tác nông nghiệp ngày càng giảm, việc tăng sản lượng phụ
thuộc vào việc tăng năng suất cây trồng. Tăng mật độ cây trồng, ứng dụng
KHCN, tăng cường kỹ thuật thâm canh là điều kiện tiên quyết để gia tăng
năng suất.
Các giống ngô lai mang nhãn hiệu
Dekalb: DK9901; và DK6818 trải qua các điều kiện
khắc nghiệt của thời tiết trong suốt các năm qua đã chứng minh một cách
thuyết phục việc đáp ứng đầy đủ các tiêu chí đúng giống nêu trên cũng
như sự mong mỏi của nông dân trồng ngô cả nước; bằng chứng là sự đón
nhận và gieo trồng của nông dân trên khắp các địa bàn, tiểu vùng khí
hậu, chân đất gieo trồng, cho năng suất rất cao và ổn định.
Sự thể hiện của các giống ngô lai
Dekalb: DK9901 và DK6818 liên tục qua các năm
2009; 2010; 2011; 2012 cho thấy mức độ thích nghi rộng, sự ổn định của
các giống. Ngoài ra, đặc tính chịu trồng dày và thâm canh cao để tăng
năng suất và hiệu quả SX là đặc điểm riêng biệt chỉ có ở bộ giống ngô
lai mang nhãn hiệu Dekalb.
Đây cũng là tiêu chí chọn giống mà hầu
hết các đơn vị chọn tạo giống theo đuổi nhưng cho tới giờ mới chỉ có
các sản phẩm mang nhãn hiệu Dekalb thể hiện rõ được tiêu chí trồng dày,
thâm canh này.
Chất lượng: Chất
lượng là tiêu chí mà các chủ đầu tư, người thu mua và kinh doanh ngô
thương phẩm đánh giá rất cao về các sản phẩm mang nhãn hiệu Dekalb.
Với tỷ lệ tách hạt cao (83 - 85%); độ
ẩm thấp hơn 2 - 4% so với sản phẩm khác, các sản phẩm mang nhãn hiệu
Dekalb như DK9901; DK6818 thỏa mãn đại đa số nhu
cầu nông dân trên khắp các địa bàn, là sản phẩm dành cho các thị
trường SX ngô hàng hóa mà nông dân cần được sử dụng và gieo trồng. Chất
lượng của giống đối với thị trường sản xuất hàng hóa được thể hiện bởi
các đặc điểm sau:
-Tỷ lệ tách hạt/ độ nặng hạt: Là tỷ lệ
hạt thu được từ trên bắp ngô. Tỷ lệ tách hạt càng cao, càng nặng hạt
thì càng có lợi cho người nông dân khi tách hạt bán hay cho nhà thu mua,
lò sấy, kinh doanh ngô thương phẩm.
-Độ ẩm: Độ ẩm của sản phẩm khi thu
hoạch hay thu mua về liên quan mật thiết tới tỷ lệ hao hụt trong chế
biến, bảo quản. Độ ẩm hạt khi thu hoạch cao không những sẽ làm tăng tỷ
lệ hao hụt sau khi sấy mà còn làm tăng chi phí mà người kinh doanh phải
chi trả khi sau khi thu mua (thời gian sấy/chi phí nhiên liệu/ nhân
lực…).
-Màu sắc sản phẩm: Màu sắc hạt ngô thể
hiện giá trị thương phẩm của lô hàng, màu sắc đẹp, phù hợp với thị hiếu
thị trường, giúp cho người SX dễ dàng bán các sản phẩm SX ra; màu sắc
cũng phản ánh chất lượng của mỗi sản phẩm. Ngô màu sắc càng đẹp thì chất
lượng càng cao, bán càng dễ và bán được giá cao hơn so với các sản phẩm
màu sắc xấu.
Ở các nhà máy thu mua nông sản thậm
chí ban đầu người kiểm tra (KCS) dựa trên màu sắc của lô hàng để phân
loại sản phẩm và định giá thành nhập. Trong điều kiện dư thừa hàng hóa,
người ta có thể căn cứ vào màu sắc để quyết định nhập lô nguyên liệu hay
không.
-Dễ bảo quản sau thu hoạch: Lựa chọn
giống có khả năng bảo quản sau thu hoạch tốt giúp cho nông dân trên khắp
các địa bàn giảm thiểu được tối đa chi phí bảo quản, giảm lượng hao hụt
cũng như giúp người SX chủ động được thời gian bán thành phẩm tránh
được tình trạng ép giá vào thời điểm cao vụ của những người thu mua.
Năng suất: Năng suất
khi thu hoạch thể hiện giá trị cuối cùng của đầu tư, là chỉ tiêu đánh
giá hiệu quả SX của 1 giống sau mỗi vụ gieo trồng. Để lựa chọn 1 giống
tốt cho gieo trồng, ngoài các tiêu chí về an toàn và chất lượng, người
dân có thể đánh giá dựa trên tiềm năng năng suất của giống.
- Tiềm năng năng suất cao: Đồng nghĩa
với việc khi nông dân tập trung đầu tư thâm canh, kỹ thuật thì thu được
năng suất càng cao hơn. Với tình trạng diện tích đất nông nghiệp ngày
càng bị thu hẹp, các giống có khả năng trồng dày, chịu thâm canh tăng
năng suất trên 1 đơn vị diện tích, giống có độ đồng đều cao là các giống
có tiềm năng năng suất cao.
Có nhiều sản phẩm có chất lượng khá
tốt, tuy nhiên không có khả năng trồng dày, không chịu thâm canh tăng
năng suất, như vậy không thể hiện được hiệu quả khi đầu tư gieo trồng.
-Phương pháp đúng tính toán năng suất:
Phương pháp tính năng suất ở đây mang tính chất khuyến cáo tới nông dân
trên khắp các địa bàn trồng ngô. Năng suất của một giống phải thể hiện
trên đơn vị diện tích gieo trồng chứ hoàn toàn không phải trên đơn vị
lượng giống trồng.
Trên cùng 1 đơn vị diện tích gieo
trồng, trồng mật độ dày sẽ cho năng suất, và hiệu quả sử dụng đất, hiệu
quả SX cao hơn, phương pháp tính năng suất đúng sẽ góp phần lựa chọn
được giống tốt để phục vụ gieo trồng, nâng cao kết quả SXNN sau mỗi mùa
vụ.
Bộ giống ngô lai mang nhãn hiệu Dekalb với khẩu hiệu cho từng sản phẩm:
DK9901 - “Bảo hiểm của nông gia”: Ra
đời là phục vụ SX ngô hàng hóa; hiện nay được coi là giống có độ an toàn
cao nhất bởi tất cả những ưu điểm của mỗi sản phẩm đều hội tụ trong
giống ngô DK9901 và được hầu hết bà con nông dân cũng như chủ đầu tư tin
dùng.
DK6818 - “Sự lựa chọn hoàn hảo”: Vừa
mới ra đời, tuy nhiên qua quá trình khảo nghiệm nghiêm ngặt của Tập đoàn
Monsanto (5 năm mỗi địa bàn) thể hiện cho thấy là giống có khả năng
thích nghi rất rộng, rất ổn định về năng suất, sinh trưởng và phát triển
khỏe, chất lượng hạt tốt và điều này hứa hẹn sẽ là người theo gót nông
dân và các chủ đầu tư đi tới các địa bàn, các nương ngô trong thời gian
tới.


23:04
Lê Tiến Nguyên

